Kinh nghiệm tự học tiếng Nhật hiệu quả - TRUNG TÂM NHẬT NGỮ MIDORI
Năm
lĩnh vực quan trọng khi học tiếng Nhật, để thi lấy chứng chỉ hay để áp dụng nó
trong đời sống là: Kanji, từ vựng, ngữ pháp, đọc hiểu, nghe hiểu. Và ngoài
chúng ra cũng quan trọng không kém là lĩnh vực thứ 6: kaiwa (hội thoại giao
tiếp).
1.
Kanji: Ác mộng của những người học tiếng Nhật.
“Sensei
ơi, Kanji nhiều lắm!”, “Sensei ơi, Kanji khó nhớ lắm”, “Sensei ơi, em học mãi
mà chẳng thuộc được Kanji”… Chắc giáo viên tiếng Nhật nào cũng phải nghe học
sinh của mình rên rỉ nhưng câu kiểu như vậy.
Welp,
cũng chẳng thể trách được. Tùy các cấp độ mà ta phải nắm vững một “lượng” kanji
tương ứng. N5 là khoảng 100 chữ, N4 là khoảng 300 chữ, N3 khoảng 650 chữ, N2
khoảng 1000 chữ và N1 là khoảng 2000 chữ. Chưa hết, mỗi chữ, chữ 1 nét viết
cũng có (chữ Nhất 一), mà chữ đến gần 30 nét cũng có (chữ Uất 鬱). Còn nữa, chữ có một cách đọc cũng có, mà chữ có đến hơn 10 cách đọc cũng có (chữ Sinh 生).
Thế
thì làm sao đây? Thực ra cách học kanji có rất nhiều, và mỗi cách thì mang lại
những hiệu quả khác nhau. Bạn có thể học theo bộ thủ, học
theo tượng hình, học theo kiểu ghép nối, sử dụng các
loại game, flash card, app trên điện
thoại… thậm chí là viết đi viết lại một chữ đến 100 lần. Điều quan
trọng ở đây là bạn nên tìm ra cho mình phương pháp hiệu quả nhất cho bản
thân, và nó cũng nên phù hợp với lối sống, lối học của chính mình. Giả sử
như bạn là một người bận rộn với công việc, không thể nào viết đi viết lại một
chữ kanji đến 100 lần thì hãy thử dùng app xem sao.
Còn
về phần tôi, tôi đã từng học theo kiểu viết đi viết lại một chữ đến vài lần
(tối đa cũng là 10 lần thôi, chưa đến 100 đâu). Đồng thời khi viết, tôi cố gắng
ghép nối chúng vào với những chữ khác, tạo ra nhiều từ vựng nhất có thể, và tất
nhiên có chú thích cả cách đọc nữa. Đôi khi tôi dùng các màu bút khác nhau để
highlight những chỗ cần thiết. Nhờ vậy mà cùng lúc học kanji tôi có thể học
thêm cả từ vựng nữa. Và học từ vựng thì lại học thêm cả cách dùng từ trong câu
như thế nào, hoàn cảnh nào… Có thể nói là tôi đã học theo kiểu liên kết
– ghi nhớ.
Khi
học N3, N2 tôi có mua một tấm bảng trắng (không quá to, kích cỡ khoảng
50x70cm), và khi học một chữ thì tôi sẽ trình bày nó thế này đây (giả sử với
chữ Hòa 和):
2. Từ
vựng: Bạn có nắm vững ngữ pháp mà vốn từ vựng hạn chế thì cũng coi như bị câm.
Để
tôi bắt đầu bằng một câu chuyện có thật, xảy ra cách đây chưa lâu:
Tôi
đã có một chuyến đi chùa Hương cùng với một người bạn (người Nhật, of course).
Hai tiếng đồng hồ bọn tôi đứng lắc lư trên xe buýt. Tôi có nhớ bạn ấy hỏi tôi
một câu: 「次は終点?」(Tiếp theo có phải shuuten không?).
Tôi đứng ngớ người ra vì không biết từ 終点 (shuuten – điểm cuối) có nghĩa là gì, và buộc phải
hỏi lại 「終点は?」 (Shuuten nghĩa
là gì?). Rồi bạn ấy giải thích 「終点は最後のバス停」(Shuuten nghĩa
là bến xe cuối cùng). Khi này ngộ ra rồi thì tôi mới lắc đầu lia
lịa 「いいえ、いいえ、次は終点じゃない」(Không phải, tiếp theo không phải shuuten đâu).
Như
bạn thấy đấy, cùng một ý nghĩa nhưng có đến 2 cách (hay thậm chí là nhiều hơn)
để diễn đạt nó. Nếu vốn từ vựng đa dạng thì bạn có thể tiết kiệm được thời
gian, và tránh được những khoảnh khắc “quê” như trên kia. Chưa kể đến cách diễn
đạt còn có thể phong phú hơn nhiều.
Vậy
làm thế nào để học từ vựng? Tôi đã học từ vựng như thế nào? Tôi xin kể tiếp về
quá trình học từ vựng của mình.
Lúc
học N4, N5 thì có lẽ là nên đọc kỹ giáo trình và làm bài tập thật nhiều thôi.
Tập trung chủ yếu ở bộ giáo trình Minna no Nihongo. Những giáo trình khác như
Dekiru Nihongo hay Nihongo Charenji cũng nên tham khảo chút ít.
N3 và
N2 thì vô biên rồi. Tôi có tập trung vào 2 giáo trình Nihongo Soumatome và
Speed Master. Điểm tôi thích (và cũng là hạn chế lớn nhất ở 2 giáo trình này
là) nó không có một chút tiếng Việt nào. Điều này buộc tôi phải tra từ điển cả
từ nguyên gốc tiếng Nhật, và cả phần giải thích bằng tiếng Anh, sau đó đối
chiếu chúng rồi ngẫm ra một từ tương ứng trong tiếng Việt. Hơi mất công và mất
thời gian, nhưng mà học được một lúc đến 3 ngôn ngữ. Chẳng phải là 1 mũi tên
trúng 3 đích sao.
Một
điều nữa mà 2 giáo trình này vẫn hạn chế là: khó mà có thể biết được cách áp
dụng những từ ấy như thế nào. Sau khi liệt kê 1 danh sách dài khoảng 60 từ vựng
khác nhau (trong 1 đơn vị bài học) thì chỉ có vỏn vẹn 10 – 15 câu bài tập áp
dụng. Và những ví dụ ấy đôi khi chỉ đúng trên dạng lý thuyết.
Giữa
lúc lạc bước tôi đã quyết định rằng: KHÔNG học thuộc từ vựng. Welp, cũng không
hẳn, chính xác là không học thuộc một cách nhồi nhét. Hai quyển giáo trình ấy
tôi chỉ đọc lướt qua và nếu cần sau này thì tôi sẽ dùng chúng tra cứu lại (may
mắn rằng 2 quyển giáo trình đó sắp xếp đơn vị bài học theo các chủ để, cần gì
thì có thể dễ dàng tìm lại). Mỗi lần học tôi chỉ học 1 – 2 đơn vị bài, và mỗi
từ trong đó thì cố gắng hình dung ra hoàn cảnh để sử dụng chúng, chúng sẽ
thường đi với những từ vựng nào khác (có một giáo trình dạy về cách học liên
kết các từ: Pea de Oboeru).
Nhưng
không học từ thì làm cái quái gì? Thay vào đó, tôi sẽ học Đọc hiểu. Mỗi bài đọc
là một kho chứa từ vựng tương đối lớn. Học từ mới, ôn từ cũ, tại sao không? Hơn
nữa, đưa vào một bài đọc thì chúng ta cũng dễ dàng hiểu được cách dùng cho mỗi
từ ra sao, ghép với những từ nào, trong ngữ pháp nào (ít nhất là dưới dạng văn
viết). Còn cách tôi học Đọc hiểu thế nào thì sẽ được trình bày sau.
3.
Ngữ pháp: Quan trọng nhưng cũng chẳng quan trọng.
Quan
trọng ở đâu? Nếu bạn có từ vựng nhưng không thể sắp xếp chúng vào một trật tự
ngữ pháp nhất định thì thử tưởng tượng lúc nói bạn sẽ trông như thế này: một
con khỉ vừa gãi gãi, vừa chỉ chỉ, vừa bật ra những âm thanh rời rạc khó hiểu.
Đùa vậy thôi chứ thực sự không đến mức đấy đâu. Có những cách khác nhau để làm
người khác hiểu được mình muốn diễn đạt điều gì, ngôn ngữ cơ thể chẳng hạn.
Nhưng nếu bạn sở hữu kiến thức ngữ pháp thì việc giao tiếp sẽ dễ dàng hơn rất
nhiều (và tránh được những rủi ro không đáng có nữa).
Trong
suốt quá trình học tiếng Nhật tôi nhận ra một điều: N5 → N4 → N3 → N2 → N1,
cùng một ý nghĩa nhưng lại có nhiều cách diễn đạt, và chúng ta phải học để vận
dụng linh hoạt trong mọi hoàn cảnh của đời sống, bộc lộ tâm tư, cảm xúc theo
nhiều cách khác nhau. Và tất nhiên còn tùy vào hoàn cảnh giao tiếp, đối tượng
giao tiếp nữa, mức độ trang trọng của cuộc hội thoại nữa.
Giả
sử thế này, cùng một chủ để là “Ngày mai trời mưa”, ta có thể có những cách
diễn đạt như sau:
「明日雨が降る。」– Ngày mai trời mưa.
(Câu
tường thuật thông thường)
「明日雨が降ると思う」– Tôi nghĩ rằng ngày mai trời sẽ mưa.
(Câu
phán đoán, bày tỏ suy nghĩ)
「明日雨が降るかもしれない。」– Có lẽ ngày mai trời sẽ mưa.
(Câu
phán đoán, mức độ chắc chắn thấp)
「明日雨が降りそうだ。」– Ngày mai có vẻ sẽ mưa.
(Câu
phán đoán, dựa trên bối cảnh hiện tại nhìn thấy được)
「明日雨が降るそうだ。」– Nghe
nói ngày mai trời sẽ mưa.
(Câu
tường thuật, căn cứ trên một nguồn tin)
「明日雨が降る恐れがある。」– Tôi e rằng ngày mai sẽ mưa.
(Thể
hiện mối quan ngại)
Một
chủ đề rất “bình thường công an phường” thôi nhưng đã có đến 6 cách diễn đạt
(và còn nhiều hơn nữa). Chưa kể đến trên kia chỉ là dạng nói thông tục, thân
thiết. Nếu chuyển về dạng lịch sự còn gấp đôi số lượng trên. Và tất nhiên, còn
cả kính ngữ nữa…
Sơ sơ
thôi cũng đã thấy tính ứng dụng và tầm quan trọng của ngữ pháp rồi đúng không?
Nhưng
sẽ như thế nào nếu tôi nói: đôi lúc ngữ pháp cũng chẳng quan trọng, khi ta đặt
chúng vào việc giao tiếp.
Ý tôi
là chúng ta không nên vận dụng câu từ một cách quá máy móc. Vì văn nói và văn
viết là 2 mảng khác nhau. Những ngữ pháp mà bạn học trong sách vở, dưới hình
thức văn viết thì nó hoàn toàn đúng, bạn hoàn toàn có thể hiểu, và bạn hoàn
toàn có thể diễn đạt cho người khác hiểu. Nhưng trong trường hợp văn nói, tức là
hội thoại giao tiếp thì sao?
Chắc
chắn bạn sẽ nghe thấy người ta biến tấu câu nói thành một dạng ngữ pháp bạn
chưa từng nghe bao giờ (nhằm thể hiện tối đa cảm xúc, tâm trạng, sự thân mật
của người nói). Lấy ví dụ thế này, bạn tôi chụp ảnh và có khoe với tôi. Cô ấy
nói rằng: 「これ、すごいんじゃないか?」(Thế này chẳng phải đẹp tuyệt sao?). Tôi cá rằng bạn chẳng thể tìm thấy một cấu trúc nào trong bất kỳ giáo trình nào hướng dẫn bạn nói câu đấy đâu. Câu nói đó đơn giản là đã được biến tấu từ câu 「これはすごいですか。」(Thế này đẹp tuyệt đúng không?).
Trợ từ đã được lược bỏ, câu chuyển về dạng phủ định để nhấn mạnh sắc thái, cách
diễn đạt trở nên gần gũi, thân thiện hơn.
Vận
dụng ngữ pháp một cách linh hoạt ngoài việc diễn tả đúng điều chúng ta muốn nói
ra còn có thể tiết kiệm thời gian, thể hiện được tâm trạng, cảm xúc một cách rõ
nét, khiến việc giao tiếp trở nên hiệu quả hơn. Nếu cứ bê nguyên những gì đã
học trên sách vở vào trong giao tiếp thường ngày thì có lẽ sẽ hơi “vô cảm”,
“gượng gạo”, và “cứng lưỡi”. Bản thân tôi cũng đang bị như vậy.
Vậy
hướng giải quyết là thế nào? Tôi sẽ trình bày thành 2 phần: “quan trọng” và
“không quan trọng”.
“Quan
trọng”, tức là đang nói tới ngữ pháp văn viết. Trước kia tôi học ngữ pháp theo
giáo trình Nihongo Soumatome và Kanzen Master. Về
quyển Nihongo Soumatome, nói thật ra thì tôi không ưa nó lắm. Mỗi
đơn vị bài học giới thiệu khoảng 4 dạng ngữ pháp, mỗi ngữ pháp cho 2 – 3 câu ví
dụ, và chẳng có giải thích gì thêm. Tôi buộc phải đối chiếu và tìm ra cách dịch
chung tổng quát nhất có thể. Sau 1 bài như vậy thì có khoảng 10 câu bài tập ứng
dụng nhưng dạng bài quá đơn giản và lặp đi lặp lại. Nói chung là quyển đó không
mấy thú vị cho lắm. Nhưng đối với quyển Kanzen Master, nó không có
một chút tiếng Việt nào, và tôi vô cùng thích thú với điều đó. Ưu điểm ở quyển
này là ở chỗ: nó có phần giải thích chi tiết cách dùng cho mỗi ngữ pháp (tất
nhiên là bằng tiềng Nhật, nhưng không quá khó hiểu). Và đối với mỗi ngữ pháp
đều nêu ra những ví dụ rất đa dạng (có mẫu nêu ra đến 8 mẫu câu). Tất cả đều
bằng tiếng Nhật nên bạn phải cố gắng để dịch, dịch nghĩa rồi còn phải dịch thế
nào cho thuận tai, thuận miệng nói, thuận với cách diễn đạt của tiếng Việt. Như
vậy sẽ tránh được việc học một cách thụ động. Hơn nữa, các dạng bài luyện tập
sau mỗi chương cũng khá đa dạng, phong phú.
“Không
quan trọng”, tức là văn nói, văn hội thoại. Cái đấy chẳng có sách nào dạy bạn
được cả. Mà chỉ có thể là kiến thức thực tế, qua việc “cọ xát” mà thôi. Nhưng
có một bí mật nho nhỏ này nhé: giáo trình Shadowing. Hiệu quả chính
của giáo trình này là luyện phát âm, ngữ điệu, phản xạ. Và cách khai thác nó
thì lại thuộc về vấn đề luyện kaiwa, vì thế nên tôi sẽ trình bày sau. Nhưng khi
sử dụng giáo trình này, hãy thử để ý đến cách mà câu từ, ngữ pháp đã được thay
đổi, biến tấu. Biết đâu bạn cũng có thể ngộ ra được điều gì đấy!
4.
Nghe hiểu: Và những suy nghĩ sai lầm.
Tôi
đã từng phạm phải sai lầm khi thực hành học Nghe hiểu, đó là: delay quá lâu để
rồi phải học một cách nhồi nhét. Tôi đã từng nghĩ rằng: cứ học hết ngữ pháp với
từ vựng đi rồi sau đấy mới có vốn kiến thức để Nghe hiểu (và cả Đọc hiểu nữa).
Nhưng mà không! Kể cả sau khi tôi cố cày xong 4 quyển giáo trình ngữ pháp và từ
vựng đi nữa thì khả năng nghe hiểu của tôi vẫn vô cùng hạn chế. Tôi vẫn nhớ đợt
ôn thi JLPT tháng 7/2016, tôi bắt đầu học Nghe hiểu đúng 2 ngày trước kỳ thi.
Và cách học đó là: tua đi tua lại file nghe, mọi lúc mọi nơi, kể cả lúc ăn cơm
hay đi tắm. Chắc mọi người có thể đoán được kết quả kỳ thi năm ấy của tôi rồi.
Vậy
điều tôi rút ra được từ sai lầm ấy là gì? Dù bắt đầu sớm hay muộn thì khả năng
Nghe hiểu cũng đều phải bắt đầu từ con số 0, vậy nên có thời gian để chuẩn bị
vẫn tốt hơn. Nếu bất kỳ ai cũng nghĩ như tôi đã từng nghĩ “học xong rồi nghe
một thể” thì có thể dừng suy nghĩ đấy ngay và bắt đầu học nghe luôn đi. Cố gắng
nghe mọi lúc mọi nơi, mọi giáo trình, tua đi tua lại, và kết hợp cả script nữa.
Nếu ban đầu bạn có nghe mà không hiểu được thì ít nhất trong đầu bạn cũng đã có
chút tiếng Nhật đọng lại trong nó rồi, chứ không phải bất kỳ thứ tiếng nào
khác. Dần dần rồi sẽ quen thôi.
Còn
nữa, một số người có ý định luyện nghe bằng phim ảnh Nhật hay anime, bài hát.
Tôi nghĩ cũng ổn thôi, nhưng cần phải cân nhắc. Bản thân tôi thì không thích
phần lớn các loại phim ảnh Nhật Bản cho lắm. Còn nếu bạn đam mê anime, âm nhạc
Nhật hay gì đó kiểu kiểu thế và có thể kết hợp đam mê ấy vào việc học thì thật
sự rất tuyệt vời. Tại sao không? Nhưng có một điều thế này nhé: hãy cân nhắc về
thể loại. Nếu bạn thích những anime thuộc dòng fantasy, horror, mecha, action…
thì e rằng cách biểu hiện, từ ngữ trong đó sẽ không có tính ứng dụng trong văn
cảnh giao tiếp thường ngày đâu. Hãy thử thêm các thể loại comedy, slice of
life, school xem sao.
5.
Đọc hiểu: Thú vị hơn những gì chúng ta nghĩ.
Như
đã nói trên phần 4, tôi, và cũng sẽ có nhiều người mắc phải sai lầm khi nghĩ
rằng: “cứ học hết ngữ pháp với từ vựng rồi mới học đến Đọc hiểu”. Nhưng rồi đến
khi bắt đầu học đọc thì tất cả những gì bạn thấy chỉ là một mớ chữ lằng nhằng
trộn vào nhau choán hết hơn nửa trang giấy mà thôi.
Vậy
nên dù sao đằng nào cũng loạn, thì loạn sớm chuẩn bị tâm lý sớm vẫn tốt hơn. Và
ngữ pháp của một bài đọc sẽ không quá cao siêu đâu, nên bạn có thể bắt đầu ngay
từ sớm. Còn về từ vựng thì có thể vừa đọc vừa học dần, không có gì quá đáng
ngại cả (như tôi đã nói ở phần 2, vừa học đọc vừa học cả từ vựng cũng được mà).
Và
việc học Đọc hiểu sẽ đem lại nhiều hiệu quả và niềm vui hơn bạn nghĩ đấy. Một là:
kết hợp học từ vựng. Bạn sẽ học được những từ mới, ôn lại những từ cũ, và có
thể biết được cách dùng chúng, thường gặp trong những ngữ pháp nào, kết hợp với
những từ nào khác. Hai là: học được văn phong của người Nhật.
Cách diễn đạt câu, sử dụng trợ từ, vận dụng ngữ pháp, thay đổi trật từ từ, biến
tấu linh hoạt giữa khẳng định – phủ định để nhấn mạnh sắc thái… Nhìn mãi rồi
cũng thành quen, khiến bạn còn có thể phản ứng nhanh hơn với các bài tập ngữ
pháp. Hơn nữa nếu sau này cần phải viết một là thư tình bằng tiếng Nhật thì sao
(just kidding)? Ba là: tích lũy thêm các kiến thức, kỹ năng
mới. Chỉ riêng trong các giáo trình Nihongo Soumatome hay Shinkanzen Master
thôi, các bài đọc đã vô cùng phong phú cả về thể loại và nội dung rồi. Từ những
bài tiểu luận, tản văn, ký sự… cho đến e-mail, thông báo, quảng cáo… Qua đó mà
biết thêm chút ít về văn hóa, xã hội, đất nước Nhật Bản, cách thức viết mail, cách
nắm bắt thông tin, phân tích bài viết, tìm luận điểm chính. Chẳng phải như thế
không tốt hơn sao?
Còn
bây giờ tôi sẽ trình bày cách tôi học Đọc hiểu thế nào. Trước hết là về nguồn
tài liệu. Giáo trình tôi sử dụng (cho N3 và N2) là Nihongo Soumatome và Shinkanzen
Master. Hai cuốn sách này hướng dẫn kỹ năng đọc hiểu khá chi tiết. Từ việc chia
chủ đề, phân loại độ dài ngắn, phức tạp của mỗi bài đọc cho đến việc hướng dẫn
chúng ta phải phân tích bài đọc ra sao, tập trung vào những keyword, lối biểu
hiện đặc biệt nào, nắm bắt thông tin, luận điểm bằng cách nào. Nhưng ngoài giáo
trình ra hãy thử tìm những nguồn tài liệu khác. Ví dụ như trang tin tức NHK.
Nếu bạn là người thích đọc báo, hay đơn giản chỉ cần tìm đọc những bài viết về
chủ đề mình quan tâm thôi thì hãy kết hợp với việc đọc hiểu xem sao. Về phần
mình, hiện tôi đang đọc một cuốn sách có tựa đề: 脳を鍛えるためのいい習慣 (Những thói
quen rèn luyện não bộ). Tất cả đều viết bằng tiếng Nhật. Từ vựng chuyên ngành rất nhiều. Kanji cũng rất nhiều (và không hề có phiên âm Furigana đâu nhé).
Nhưng đây là một cuốn sách có tính ứng dụng cao nên tôi khá thích thú và sẽ
không từ bỏ giữa chừng đâu!
Tiếp
theo là cách đọc. Đối với mỗi bài đọc, tôi sẽ lướt qua trước để tìm
ra những từ mới và ngữ pháp cần chú ý, sau đó là dịch chúng ra tiếng Việt. Khi
không còn vương vấn gì nữa tôi sẽ đọc bài đó ít nhất 2 lần. Lần đầu tiên, đọc
lướt qua, đọc thầm trong đầu, kết hợp dịch nghĩa sơ qua. Lần thứ hai, tôi đọc
thành tiếng (không nhất thiết phải hét to lên, chỉ cần vừa đủ để tai mình nghe
thấy), kết hợp dịch nghĩa một lần nữa, kỹ hơn. Lần đọc thứ hai này có thể giúp
bạn luyện giọng luôn (một công đôi việc). Nếu chưa hiểu nghĩa của bài đọc, tôi
sẽ thực hiện lần đọc thứ ba (và thứ tư nếu cần).
Nhưng
đó là khi bạn có thời gian và tự luyện tập thôi nhé. Khi đi thi, sẽ
không có thời gian để bạn đọc đi đọc lại đâu, thậm chí chẳng có thời gian để
đọc đến lần thứ hai. Vậy nên khi làm bài đọc, hãy đọc trước câu hỏi và xác định
rõ yêu cầu, rồi sau đó đọc thật kỹ một lần. Vừa đọc vừa để ý đến những câu từ,
cách diễn đạt có thể là keyword để trả lời câu hỏi đó. Một khi
đã xác định được thông tin cần thiết thì dừng lại ngay và đừng bận tâm đến
những gì còn lại. Và đừng có đọc thành tiếng đấy nhé!
6.
Kaiwa: Đưa mọi thứ đã học vào thực tế.
Mục
đích chính của việc học một ngôn ngữ là để ứng dụng nó trong đời sống, dù là
trong công việc hay giải trí. Đọc một cuốn sách, một tập tài liệu, trả lời
mail, xem phim, nghe nhạc, trò chuyện với bạn bè, đối tác… Nếu mục đích học
ngoại ngữ của bạn là học chỉ để học, học để tick bài tập trắc nghiệm thì, welp,
có lẽ bạn nên dừng lại và xem xét chính mình. Hãy vận dụng kiến thức đã học vào
thực tế, khiến nó trở thành kiến thức “sống”, đừng để nó cứ nằm im trên nhưng
trang sách giáo trình. Và hình thức phổ biến nhất để bạn có thể ứng dụng kiến
thức ngôn ngữ của mình đó là hội thoại giao tiếp.
Học
tiếng Nhật dĩ nhiên là để nói chuyện với người Nhật rồi. Chứ chẳng người Việt
nào muốn bạn tự dưng đem tiếng Nhật ra để nói chuyện với họ cả. Vậy nên mỗi khi
có cơ hội tiếp xúc với bạn bè, thầy cô người Nhật, hãy trân trọng cơ hội đó.
Tận dụng nó để nâng cao khả năng giao tiếp, khả năng ngôn ngữ của bản thân. Nếu
không biết gì đừng ngại phải hỏi lại, đừng ngại nhờ họ giải thích thêm. Hãy sử
dụng những câu “thần chú”: 「もういちどおねがいします。」(Làm ơn nhắc lại lần nữa),「これは日本語で何ですか。」(Cái này trong tiếng Nhật là gì),「いみは何ですか。」 (Ý nghĩa là gì vậy), 「かんたんなことばで、ゆっくりはなしてください。」(Hãy nói chậm và dùng từ ngữ đơn giản).
Còn
khi không có người Nhật thì sao? Nếu bạn đang tham gia các lớp học tiếng Nhật
thì nên tận dụng tối đa thời gian trên lớp học để sử dụng tiếng Nhật. Ngoài sự
chỉ đạo của giáo viên ra, hãy thử áp dụng tiếng Nhật những câu chào hỏi, giao
tiếp thông thường, những câu biểu cảm, câu phản ứng xem sao. Thậm chí là “đá
xoáy” hay “tỏ tình” bằng tiếng Nhật nữa. Biết đâu sẽ thú vị hơn nhiều! Tất
nhiên ban đầu có thể hơi gượng gạo, nhưng dần dần rồi sẽ quen thôi.
Ngoài
môi trường lớp học ra, bạn có thể tự luyện tập cùng bạn bè. Hoặc tham gia các
buổi giao lưu, câu lạc bộ ngoại ngữ. Một điểm tôi thấy hay ở hình thức câu lạc
bộ ngoại ngữ đó là: bạn có thể “xả” một cách thoải mái, nói là việc của mình
còn hiểu là việc của người. Ai cũng phải bắt đầu từ con số 0 cả. Bạn có thể nói
sai, nói chưa hay, chưa đúng ngữ điệu, nói như robot nhưng chắc gì những người
khác đã hơn bạn. Một khi đã tham gia thì hãy nói, nói cái chết tiệt gì cũng
được. Vì sẽ không có ai đánh giá bạn đâu. Mà nếu họ có đánh giá thì cũng chẳng
ảnh hưởng gì đến bạn. Và nếu họ có không ưa bạn thì cùng lắm là đi tìm một club
khác thôi.
Còn
khi chỉ có một mình thì sao? Hãy thử đặt bộ não vào “chế độ tiếng Nhật”. Thử tự
suy nghĩ xem: Câu này nói trong tiếng Nhật như thế nào? Đối với sự việc này
người Nhật sẽ phản ứng như thế nào? Từ này trong tiếng Nhật là gì?...
Và
tôi sẽ giới thiệu một phương pháp tôi đang sử dụng gần đây: độc thoại. Nghe có
vẻ kỳ lạ và điên rồ. Nhưng độc thoại là khi mình chỉ có một mình và không nhất
thiết phải cho người khác biết, vậy nên là, kệ đi! Tôi vừa chạy file nghe giáo
trình Shadowing vừa đọc script, cố gắng bắt chước ngữ âm, ngữ điệu. Đặt bản
thân mình vào hai phía của cuộc hội thoại. Đồng thời để ý đến cách sử dụng ngữ
pháp, câu từ, những hướng phản ứng khác nhau, tìm ra những cách nói tương
đương… Tích hợp được khác nhiều thứ vào cùng một lúc, chứ không chỉ đơn giản là
học kaiwa.














































































































0 nhận xét:
Đăng nhận xét